Thược dược

Thược dược

Tình trạng : Giới thiệu
Nhóm cây : Cây hoa

Trong các loài hoa, mẫu đơn đứng đầu, thược dược đứng thứ hai. Mẫu đơn được tôn xưng là "hoa vương", thược dược được coi là "hoa tướng". Danh y Lý Thời Trân của Trung Quốc cũng đánh giá như vậy khi nói về tác dụng chữa bệnh của hai loài hoa này.
Ý nghĩa của hoa thược dược :

    - Hoa Thược Dược : sự tươi thắm và tình yêu.
    - Hoa Thược Dược Trắng : tôi bắt đầu yêu bạn rồi đó.
    - Hoa Thược Dược Hồng : tôi tự nguyện yêu bạn mãi mãi.
    - Hoa Thược Dược Vàng : tôi yêu bạn với lòng sung sướng của tôi.

Thông tin về tên gọi và lịch sử :

Họ : Astheraceae
Có nguồn gốc từ Mễ tây cơ (Mexique ).

Thuộc giống sống lâu với những nơi có khí hậu ấm áp, những vùng khí hậu    bốn mùa thì người ta đào củ rễ lên vào cuối thu, rửa sạch và cất vào   một  nơi thoáng mát không có ánh sáng mặt trời. Rễ của thược được có   hình  dạng tròn, dính chùm, mỗi củ cho ra một nhánh cây. Thược được rất   đa  dạng, vô số màu sắc nhưng tuyệt nhiên không bao giờ có màu xanh!

Sự hiện diện của Thược dược màu đen( thật ra đó là màu đỏ rất sậm ) vào    năm 1842 đã gây ra bao nhiêu là danh tiếng , đến nỗi Nữ hoàng của Anh    quốc , Victoria, bà đã coi như Thược dược đen là hoa của "nửa mùa tang  "   ( hoặc còn được gọi là mùa tang của vua Albert , phu quân của Bà !  ).

Hoa thược được bắt đầu cho hoa từ đầu tháng bảy đến tận cuối mùa thu,    hoa chưa tàn thì các nụ mới đã mọc đầy, không ngừng nghĩ ngơi như các    loài hoa khác, vì thế người ta coi Thược dược là ý nghĩa của sự biết ơn    ...

Là một giống thân cây rỗng, cao từ 30cm tới 2m.

Có bốn  loại thược dược chính thức:

-  Thược dược xương rồng: cánh hoa cuộn tròn, dài ống và chỉa ra từng cánh nhọn, hoa to rất đẹp.

- Thược dược  tàn ong : Đây là ngôi sao của việc tạo thành những bó hoa    tuyệt đẹp, hoa dạng tròn rất đều đặn, cánh hoa tạo thành hình những lỗ    tàn ong.

- Thược dược trang trí : dạng hoa rất thường thấy có đường kính từ 20 đến 30cm

- Thược dược búp tròn: Loại này có những cánh hoa uốn cong từ nhuỵ tới đài    hoa, tạo ra dạng hình như một trái banh, cao từ 60cm đến 1m

Thược được thích đất ẩm ướt, giàu phân bón nhưng tuyệt đối kỵ dầm chân lâu trong nước đọng, vì rể rất dễ bị hư rữa.

Có tên gọi là Dalhia, để tưởng nhớ tới nhà thực vật học Thuỵ điển    Andreas Dahl ( học trò của Carl von Linné ), ông đã đưa củ rể Thược dược    vào Châu âu vào năm 1788 như một loại thức ăn thời bấy giờ theo phong    tục của người Aztèque ( Bộ lạc rất xưa của người Mễ tây cơ ! )! Nói  đến   đây thì ta nên nhớ là theo phong tục của người Aztèque, họ coi  Thược   dược là một loại hoa kỳ bí, họ đã dùng nó chế biến ra một loại  kỳ dược   giúp họ giữ mối quan hệ với thế giới siêu phàm...

Tuy chỉ là "hoa tướng" nhưng thược dược lại thành   danh sớm hơn mẫu đơn. Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại,   thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn ở rất nhiều nơi trong khi   người ta còn chưa biết đến hoa mẫu đơn. Khi mới phát hiện ra mẫu đơn,   người ta tưởng đó chỉ là một loài thược dược, nên đã gọi nó là "mộc   thược dược". Hai hoa này nhìn thoáng qua rất giống nhau nên người xưa   thường gọi là hai chị em.

Về sau, người ta phát hiện mẫu đơn và thược dược   tuy cùng họ nhưng là hai cây khác nhau. Thược dược là loài thân thảo,   còn mẫu đơn là cây thân gỗ. Thược dược được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết,   sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể; còn mẫu đơn thuộc nhóm thanh  nhiệt  lương huyết, chủ yếu dùng khi cơ thể đã mắc bệnh.

Bạch thược dược (Paeonia Lactiflora) có hoa rất to,   mọc ở ngọn thân, tựa như hoa mẫu đơn hay thược dược cảnh. Cánh hoa màu   hồng nhạt hay trắng muốt, nhị vàng cam, rễ phình to thành củ. Củ này   luộc chín phơi khô chính là vị thuốc bạch thược. Cây bạch thược này   không phải là cây hoa thược dược (Dahlia variabilis Desf) vẫn được trồng   nhiều trong dịp Tết.

Truyền thuyết:

Tương truyền, tác dụng chữa bệnh của bạch thược đã   được danh y Hoa Đà phát hiện ra trong một tình huống rất ly kỳ. Để nhận   biết và tránh nhầm lẫn các vị thuốc, ông đã trồng đủ thứ cây thuốc  quanh  nhà. Một hôm có người đem biếu ông cây hoa lạ, nói rằng có thể  dùng  chữa bệnh nhưng không rõ chữa được bệnh gì. Hoa Đà đem trồng ở góc  sân  bên cửa sổ.

Xuân tới, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt,   thơm như hoa hồng. Ông thử hái hoa sắc uống nhưng không nhận thấy có  gì  khác lạ. Ông lại hái lá rồi hái cành đem thử cũng không phát hiện  điều  gì đặc biệt. Nghĩ rằng cây hoa này tuy đẹp nhưng không có tác dụng  chữa  bệnh nên mấy năm liền, Hoa Đà không để ý đến nó nữa.

Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe   thấy ngoài cửa sổ có tiếng con gái khóc thút thít. Nhìn ra, ông thấy   dưới ánh trăng mờ, có một người con gái rất đẹp đang đứng đó khóc. Ông   tự hỏi, không biết con gái nhà ai, chắc có nỗi oan ức nào đây. Ông khoác   áo ra ngoài nhưng nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người nào nữa,   chỗ cô gái đứng khóc chỉ còn một cây thược dược.

Hoa Đà đi vào và tự nhủ: "Cho dù nhà ngươi có linh   tính thì bây giờ cũng đang là mùa thu, hoa đã tàn, lá đã rụng, còn sử  dụng được vào việc gì?".

Nhưng ông vừa ngồi xuống tiếp tục đọc sách thì lại   nghe tiếng khóc thút thít, nhìn ra vẫn là cô gái ban nãy. Hoa Đà bước   ra, cô lại biến mất, vẫn chỉ có cây bạch thược. Sự việc cứ lặp đi lặp   lại mấy lần khiến Hoa Đà vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn đánh thức vợ đang   ngủ say dậy kể lại chuyện.

Bà nói: "Tất cả các cây trong vườn đều được ông sử   dụng làm thuốc cứu người, chỉ có cây bạch thược này bị bỏ quên, chắc là   nó có nỗi oan ức". Hoa Đà bảo: "Tôi từng thử tất cả các bộ phận của nó   thấy chả có tác dụng, vậy còn oan ức nỗi gì?".

Bà vợ nói: "Ông mới thử những thứ trên mặt đất, còn   rễ của nó thì sao?". Nhưng danh y gạt đi: "Hoa lá cành còn chẳng có gì   đặc biệt, vậy thì còn thử rễ làm gì?". Dứt lời, ông nằm xuống ngủ  thiếp  đi. Bà vợ suốt đêm không sao chợp mắt, nghĩ rằng chồng mình đã  thay đổi,  không còn lắng nghe ý kiến của người khác như trước kia nữa.

Vài hôm sau, bà vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng,   băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà liền lén ra vườn   đào rễ cây bạch thược đem sắc uống. Chỉ nửa ngày sau, bụng đã hết đau,   máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà rất cảm kích: "Cảm   ơn bà đã thức tỉnh ta, nếu không thì ta đã để mai một cây thuốc quýquý".

Sau sự kiện đó, ông thử nghiệm và nhận thấy ngoài   tác dụng giảm đau, cầm máu, rễ bạch thược còn có tác dụng dưỡng huyết và   chữa được nhiều bệnh phụ khoa. Cây hoa lạ này ban đầu có tên bạch   thược, sau đó Hoa Đà thêm chữ "dược" thành bạch thược dược.

Cùng với thời gian, Đông y phát hiện thêm nhiều   công dụng nữa của cây bạch thược. Nó trở thành thuốc bổ huyết thiết yếu,   phổ tác dụng rộng và tần suất sử dụng rất cao. Bạch thược chủ trị kinh   nguyệt rối loạn, vã mồ hôi, mồ hôi trộm, đau đầu, chóng mặt. Trên lâm   sàng y học hiện đại, nó chữa tử cung xuất huyết, viêm thận mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường, viêm võng mạc, cường tuyến giáp...

Thược dược  có nguồn gốc từ Mexico, được mang vào Tây Ban Nha năm 1789 và đã trang  điểm cho vườn hoa của Hoàng gia trong suốt 9 năm, sau đó Tây Ban Nha mới  cho phép nó được du nhập vào các nước khác ở Châu Âu. Chính ở các nước  này, Thược dược đã khiến cho bao du khách người Anh kinh ngạc vì sự dồi  dào về chủng loại và độ lớn của nó.

Hoa Thược dược được đặt tên theo tên của Endrew Dahl, một nhà thực vật học người Thụy  Điển. Ông đã trao tặng những hoa này cho Lady Holland năm 1804 và Lady  Holland cũng chính là người đã gieo trồng thành công loại hoa này tại  Anh Quốc.

Có lẽ vì hoa Thược dược không có hương và nữa, những tán lá tuy có  màu xanh đẹp nhưng hơi thô ráp và nhất là vì sắc hoa quá phô trương mà  nó ít được các nhà thơ ca tụng.

Bình luận

*
*
* Kích chuột vào hình bên cạnh để lấy mã kiểm tra ( Kích chuột vào hình để lấy mã kiểm tra )

Bình luận trên facebook

Xem thêm

Hoa Ti gôn

Ti-gôn hay Ăng-ti-gôn là tên gọi chung để chỉ các loài dây leo thuộc chi có danh pháp khoa học: ...

Hoa anh túc

Anh túc hay còn gọi là a phiến, thẩu, trẩu (người Tày gọi là cây nàng tiên), là loài thực vật có tên ...

Hoa cẩm nhung

Hoa Cẩm Nhung là một loại cây thân thảo lâu năm có chiều cao 30-50 cm. Lá Hoa Cẩm Nhung có màu xanh ...

Hoa hướng dương

Hướng dương còn được gọi là hoa quỳ (danh pháp hai phần: Helianthus annuus) là một loài thực vật chỉ ...

Violet châu Phi

Violet châu Phi là một trong số những loại cây dễ trồng để đơm hoa nhất. Hoa Violet nở quanh năm mà ...

Hoa loa kèn

Hoa loa kèn hay huệ tây, ở Đà Lạt gọi là hoa Lys (từ tiếng Pháp: fleur de lys), (tiếng Nhật: ...

Hoa Tulip - Uất kim hương

Tulip (tên gọi khác: uất kim hương, biến thể: uất kim cương) là một loài hoa có nguồn gốc ở vùng ...

Hoa đèn lồng - Hồng hoa đăng

Hồng hoa đăng hay còn gọi là hoa lồng đèn được trồng rất phổ biến ở Đà Lạt. Nhờ hình dáng mà loại ...

Trinh nữ hoàng cung

Trinh nữ hoàng cung hay Náng lá rộng, Tỏi lơi lá rộng, Tây nam văn châu lan, Tỏi Thái Lan, tên hán ...

Xương rồng bát tiên

Xương rồng Bát Tiên thích nghi với khí hậu vùng nhiệt đới, nhưng sức chịu đựng kém hơn xương rồng, ...
Hòn non bộ
Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 43

Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 43

Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 43 0 VNĐ
Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 42

Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 42

Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 42 0 VNĐ
Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 41

Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 41

Hòn non bộ mini - mẫu tham khảo 41 0 VNĐ
scroll top